Thượng tướng Nguyễn Hữu An – Vị tướng tài ba của quê hương cờ lau

1
131
Thượng tướng Nguyễn Hữu An (10/1926 – 9/4/1995), sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo yêu nước tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Tháng 8/1945, ông gia nhập quân đội.
Thượng tướng Nguyễn Hữu An.

Nguyễn Hữu An trưởng thành trong quân đội từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong chiến dịch biên giới năm 1950, đồng chí là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 251 chủ công của Trung đoàn 174 (Trung đoàn Cao Bắc Lạng) – đơn vị đã tấn công và tiêu diệt đồn Đông Khê, mở đầu chiến dịch thắng lợi. Đồng chí lần lượt giữ các chức vụ: Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó trong các trận đánh ở Bình Liêu, Vĩnh Phúc, Mộc Châu… Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, thuộc Đại đoàn 316, 3 lần tấn công đồi A1. Sáng 7/5/1954, Trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của đồng chí đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm A1, mở đường cho quân ta  đánh vào cánh đồng Mường Thanh, kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong trận này chính Nguyễn Hữu An là người ra lệnh cho kích nổ khối bộc phá 1000 kg làm tan nát đồi A1.

Năm 1964 trên cương vị Sư đoàn trưởng, đồng chí chỉ huy Sư đoàn 325 hành quân vào miền Nam chiến đấu. Vào đến Tây Nguyên, do khó khăn về bảo đảm hậu cần và tình hình thay đổi, Sư đoàn 325 phân tán; 2 trung đoàn được điều chuyển  xuống khu 5, chỉ còn Trung đoàn 101 ở lại mặt trận Tây Nguyên (B3). Thời kỳ này đồng chí Nguyễn Hữu An được giao nhiệm vụ làm Phó Tư lệnh B3. Đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy Trung đoàn 101 diệt gọn Tiểu đoàn biệt động của địch mang biệt danh “Cọp đen”, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 44 chủ lực quân lực Việt Nam Cộng hòa, diệt Trung tá Trung đoàn trưởng trung đoàn này.

Tháng 11/1965, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh trận Ia Đrăng, đây là trận đánh nổi tiếng ở thung lũng Ia Đrăng đã tiêu diệt hoàn toàn 1 tiểu đoàn và làm thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ. Trận đánh phủ đầu và chiến thắng lực lượng kỵ binh bay của Mỹ khi quân Mỹ vừa vào Việt Nam, một trận thắng mà chính các tướng lĩnh của Mỹ phải thừa nhận “Ia Đrăng – trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam”.

Mùa mưa năm 1966, đồng chí trực tiếp chỉ đạo đánh địch ở chiến trường bắc Kon Tum. Kế hoạch là vây đồn Tu Mơ Rông để diệt viện và sẵn sàng đánh Mỹ (vì có tin Lữ đoàn dù 173 Mỹ sẽ tham chiến). Quân ta vây đồn Tu Mơ Rông được mấy ngày thì Trung đoàn 44 chủ lực ngụy lên chi viện, song chúng chỉ hoạt động vòng ngoài không vào sâu trận địa phục kích của ta, ý kiến của Thường vụ Đảng ủy tiền phương và cơ quan tham mưu là cứ kiên trì diệt một bộ phận Trung đoàn 44 cho chắc ăn, rồi sẽ quay lại đối phó với Mỹ. Riêng đồng chí, sau một đêm suy nghĩ, đã quyết định di chuyển lực lượng vây đồn và diệt viện rút về bố trí ở khu tập kết cách trận địa khá xa. Mọi người tin đồng chí, chấp hành, song vẫn thắc mắc, nếu địch không vào thì sao, đánh hết gạo về tay trắng hay sao? Nhưng khi bộ đội vừa bố trí xong, thì Mỹ ào ạt đổ quân từ trực thăng xuống. Chúng chắc mẩm, chủ lực ta đang bị hút vào mục tiêu quân ngụy, ở đây toàn là lực lượng hậu cần, nếu bóc hết hậu cần thì quân ta hết gạo, đạn, không đánh cũng tan và sẽ quay lại diệt chủ lực ta sau. Như vậy khác với Ia-đrăng, chúng không đổ thẳng quân vào đội hình quân ta để tìm diệt ngay từ đầu. Nhưng chúng đã lầm, rơi vào “ổ kiến lửa”, bị tiêu diệt rất nặng, tình cảnh ở đây cũng như ở Ia-đrăng.

Năm 1971, đồng chí là Tư lệnh Sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào. Sau chiến thắng, đồng chí được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pa thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum. Đến cuối tháng 6 năm 1972, Quân ủy Trung ương lại điều đồng chí chỉ huy Sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị.

Năm 1975, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An là Tư lệnh Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang). Dưới sự chỉ huy của đồng chí Quân đoàn 2 đã lần lượt giải phóng tỉnh Quảng Trị, thành phố Huế; và cùng với các lực lượng vũ trang quân khu 5, trong 3 ngày đêm đã đánh bại gần 10 vạn lính cơ động chủ lực của quân đội Việt Nam Cộng hòa tại căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, sau đó đồng chí đã chỉ huy toàn bộ quân đoàn hành quân gần 1000 km để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, sau khi tiêu diệt tuyến phòng thủ từ xa của quân lực Việt Nam Cộng hòa tại Phan Rang chỉ trong vòng 24 giờ. Trong trận quyết chiến cuối cùng giải phóng Sài Gòn, Quân đoàn 2 do đồng chí Nguyễn Hữu An chỉ huy là 1 trong 5 cánh quân đã nhanh chóng thọc sâu cắm lá cờ đỏ lên nóc dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Đọc thêm >>  Danh nhân đất Ninh Bình

Trong chiến tranh biên giới Tây Nam, đồng chí chỉ huy Quân đoàn 2 bảo vệ biên giới của Tổ quốc, cùng các đơn vị khác tiến vào sào huyệt của chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Cam-pu-chia, cứu nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng (7-1-1979)…

Từ năm 1984-1987 đồng chí qua các chức vụ Phó tổng Thanh tra quân đội, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 2, rồi quyền Tư lệnh Quân khu 2. Từ năm 1988-1995, đồng chí làm Giám đốc Học viện Lục quân, rồi Giám đốc Học viện Cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

Với những thành tích trong quá trình công tác, đồng chí được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1986) và được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.


Hai đề xuất của tướng Nguyễn Hữu An

Nhớ lại những ngày lịch sử tháng 4/1975, Thượng tướng Nguyễn Hữu An có 2 điều tâm đắc mà khi đề xuất đều được Tổng hành dinh và Bộ Chỉ huy tiền phương chấp thuận. Đó là Binh đoàn Hương Giang được tổ chức mũi tiến công hướng duyên hải, dọc đường 1 tiến vào Sài Gòn, sau khi giải phóng Huế – Đà Nẵng và… nếu Binh đoàn vào Sài Gòn trước thì được phép cắm cờ trên Dinh Độc.

Thượng tướng Nguyễn Hữu An được cử đi học chỉ huy chiến lược ở Liên Xô về nước, ông nhận chức vụ Tư lệnh Binh đoàn Hương Giang. Đầu tháng 4/1975, khi cử đồng chí Hoàng Đan, Phó tư lệnh Binh đoàn ra Hà Nội báo cáo Tổng hành dinh, Thượng tướng trao đổi về việc đề xuất xin cho binh đoàn tiếp tục tham gia tác chiến hướng duyên hải, dọc theo Quốc lộ 1. Ông dặn kỹ, nếu trên đồng ý, lập tức điện ngay vào binh đoàn, sau đó bay trực thăng về ngay. Đúng như dự tính, trên đồng ý cho Binh đoàn Hương Giang nhanh chóng theo trục đường số 1 thần tốc tiến công các địa bàn còn lại của Việt Nam cộng hòa (VNCH).

Thượng tướng bộc bạch: tuy binh đoàn còn lực lượng pháo binh, bộ binh vẫn ở khu vực Thượng Đức chưa ra hết ngoài lộ 1, do xe pháo gặp đường xấu nhưng trước đó, một số phân đội của binh đoàn đã bố trí hành quân. Trước đó các đơn vị trong khi tiến đánh các mục tiêu ở Bắc và Nam Hải Vân, thu được rất nhiều pháo 105mm, 155mm và gần 500 xe cơ giới, chủ yếu là xe GMC, xe DOGE của quân VNCH. Thượng tướng  đã trao đổi với Bộ Tư lệnh, cơ quan tác chiến, cơ quan kỹ thuật và ngành vận tải hậu cần, rồi quyết định cho phép thay pháo 122 ly và Đ74 (xuất xứ Liên Xô) của Lữ đoàn Pháo binh 164, cũng như các khẩu pháo kém hiệu quả của các sư đoàn bộ binh bằng pháo 105mm, 155mm của Mỹ. Sẽ có hai thuận lợi, thứ nhất pháo Mỹ bắn ổn định, bền, hiệu quả hỏa lực cũng cao. Thứ hai, đạn pháo Mỹ có nhiều, không phải lo chở theo dự phòng cơ số lớn, vì “đi đâu cũng có đạn Mỹ!”. Đó là chưa nói việc kéo pháo bằng xe bánh hơi, tốc độ hành quân cao hơn xe bánh xích (loại ATN) chậm chạp. Các đơn vị cử người ở lại giữ xe xích, pháo 122 ly. Lái xe thiếu hụt ư?, không hề khó! Mượn dân, sử dụng hàng binh, họ đều có tay lái vững vàng, sẽ có cách giải quyết đãi ngộ bằng chính sách… Sau này cho thấy chủ trương này là rất đúng, lái xe hàng binh rất tận tụy, tích cực.

Thượng tướng trầm ngâm rồi kể tiếp: Vào tháng 4/1975 việc hành quân cả vạn bộ đội và binh khí nặng được bảo đảm bằng xe cơ giới của trên và của binh đoàn, nhưng với chiều sâu chiến đấu khoảng 1.000 cây số, làm sao tổ chức tác chiến trong hành tiến được tốt, ít tổn thất?  Bộ Tư lệnh Binh đoàn đã bàn bạc, phân tích kinh nghiệm cuối tháng 3, từng tiến công trên đường 1, bắc Huế và từ hướng Hải Vân vào Đà Nẵng cho thấy, nếu tổ chức phối hợp tốt công binh, pháo binh, cao xạ, tăng – thiết giáp với bộ binh, tác chiến hiệp đồng chặt chẽ, mũi đột kích sẽ rất rắn, tạo sức mạnh đột kích liên tục, sẽ nhanh chóng đè bẹp lực lượng địch.

Ngày 14 và 15/4, Sư đoàn 3 Sao Vàng, dưới sự bắn phá mãnh liệt của các phân đội pháo binh, tiến đánh từ hai hướng vào phòng tuyến “Lá chắn thép Phan Rang”. Phòng tuyến Du Long – Ba Tháp vỡ từng mảng. Mờ sáng ngày 16-4, Bộ Tư lệnh Binh đoàn lệnh cho mũi thọc sâu dẫn đầu là tiểu đoàn 4 xe tăng (thuộc lữ 203) cùng một bộ phận của bộ binh Sư đoàn 325 và Sư đoàn 3 Sao Vàng đột phá trên đường số 1. Mặc đầu lực lượng chốt chặn của VNCH do tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Văn Sang, có quân lữ dù, biệt động, được sự chi viện của không quân điên cuồng chống đỡ, xe tăng ta bị tổn thất, nhưng trước tốc độ tiến công nhanh, hỏa lực mạnh, sức đột phá dũng mãnh của xe tăng, bộ binh trên xe, lần lượt các cứ điểm Gò Đền, Hội Diên, Xuân An, Cà Đú… bị đánh chiếm. Chỉ sau chưa đầy 2 giờ chiến đấu, hướng tiến công dọc lộ 1 đã tiến đánh tới thị xã Phan Rang. “Lá chắn thép Phan Rang” vỡ vụn trong ngày 16/4/1975. Đây là trận tiến công trong hành tiến “quy mô lớn” đầu tiên của quân đội ta, đạt hiệu quả rất cao, chiều sâu tiến công đạt gần 70km/ngày. Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là nhờ phát huy tối đa sức mạnh của tăng thiết giáp làm lực lượng đột kích chủ yếu, vừa đi vừa đánh, bỏ qua những mục tiêu nhỏ lẻ để nhằm tới mục tiêu mang tính quyết định. Thượng tướng Nguyễn Hữu An khẳng định, từ trận thực chiến trong hành tiến này đã góp phần không nhỏ vào quyết định tổ chức “binh đoàn thọc sâu” của cánh quân phía đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh sau đó hơn 1 tuần.

 

Thượng tướng Nguyễn Hữu An và Tướng Harold Moore (cựu binh Mỹ) thăm lại chiến trường I-AĐrăng (Tây Nguyên) năm 1993

Sau 1 tuần, tại Rừng Lá, lực lượng tập kết chiến dịch chủ yếu của Binh đoàn Hương Giang đã có mặt. Thượng tướng kể, Sài Gòn đã gần lắm, lá chắn Xuân Lộc vừa mở toang. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ tổ chức binh đoàn thọc sâu hướng đông tiến đánh vào nội đô Sài Gòn, binh đoàn xin ý kiến Bộ Chỉ huy tiền phương, đại ý: “Nếu đơn vị nào vào trước, có được phép cắm cờ hay không?”. Đại điện Bộ chỉ huy tiền phương trả lời “đồng ý” đơn vị nào vào trước thì được cắm cờ. Ông nhắc lại hai lần, tôi rất tin tưởng vào tốc độ và sức đột phá của Binh đoàn Hương Giang, nhất định chúng tôi sẽ vào trước.

Rất khẩn trương, toàn binh đoàn tổ chức thành từng khối. Mỗi khối hành quân công binh đi đầu, có một trung đoàn pháo cao xạ bảo vệ, bộ binh và pháo binh đi sau. Hồi 17 giờ ngày 26/4, xe pháo, bộ binh từ các rừng cao su ào ào xông ra đường số 1. Cùng lúc, trận địa pháo tầm xa đặt ở Nhơn Trạch bắn một chập hơn 300 quả đạn pháo xuống sân bay Tân Sơn Nhất… Binh đoàn Hương Giang được nổ súng trước 1 ngày. Chỉ mấy ngày sau, các đơn vị hợp quân với lực lượng xe tăng và bộ binh vừa tiến công căn cứ Nước Trong, Long Thành. Đúng sáng 30 tháng 4 toàn binh đoàn là một mũi thọc sâu, dưới sự chi viện của 3 trận địa hỏa lực, có đặc công, biệt động dẫn đường, tiến công trong hành tiến, vượt cầu xa lộ sông Đồng Nai nhằm thẳng hướng nội thành Sài Gòn. Dọc đường, xe tăng, pháo đi cùng dùng hỏa lực diệt các ổ đề kháng địch ở Thủ Đức. 9 giờ 30 phút, bộ phận đi đầu đến cầu Rạch Chiếc. Cầu này đã được quân biệt động, kiên cường đánh chiếm trước và giữ, đón mũi thọc sâu tới. Điều đáng nói là lần đầu tiên lực lượng xe tăng được giao chỉ huy mũi thọc sâu binh chủng hợp thành, tốc độ tiến công nhanh chưa từng thấy, đè bẹp mọi ổ đề kháng. 11 giờ 30 phút ngày 30/4, cờ chiến thắng được Binh đoàn Hương Giang cắm bay phần phật trên nóc tòa Dinh Độc Lập. Hai điều tâm huyết của Thượng tướng đều toại nguyện.

Đọc thêm >>  Chân dung Nguyễn Tử Quảng - Người con Ninh Bình quả cảm

Hôm nay, tôi lại nhớ về vị tướng chiến trận, một người chỉ huy có tầm nhìn chiến lược, một vị chỉ huy quyết đoán và nhạy bén trong xử lý tình huống thực tiễn chiến trường, một con người có tư duy rất hiện đại. Đôi mắt nhân từ của ông trong ảnh cũng như ngoài đời khiến chúng tôi mãi nhớ về một người chỉ huy luôn suy nghĩ trong thực chiến và trên bài giảng, trong cả đề tài khoa học, làm sao trong đánh giặc “bộ đội ít bị thương vong nhất”.

Năm nay, 2015, Nhà nước vừa truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang cho Thượng tướng Nguyễn Hữu An, vì những chiến công lẫy lừng từ trận Đông Khê, đồi A1 Điện Biên, chiến trường Lào, I-AĐrăng, Đường 9 nam Lào… và mũi tiến công trong hành tiến (tiến công vượt điểm) tại chiến dịch cuối cùng, Giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Nguồn: Tổng hợp
5 (100%) 3 vote[s]

1
Bình luận

avatar
1 Comment threads
0 Thread replies
0 Followers
 
Phản hồi nhiều nhất
Chủ đề bình luận nóng nhất
1 Tác giả bình luận
tranthanh86 Tác giả bình luận gần đây
  Đăng kí  
Mới nhất Cũ nhất Nhiều bình chọn nhất
Thông báo khi có