KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CỐ ĐÔ HOA LƯ: LỊCH SỬ VÀ CẢNH QUAN

0
29

Khu Di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư với tổng diện tích khoảng 300 ha thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, nơi đã gắn liền với ba vương triều Đinh – Tiền Lê – Lý. Đây là di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam, đồng thời thuộc vùng lõi của Quần thể Danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

Theo sử cũ, năm 968, sau khi thống nhất 12 sứ quân, thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư “đắp thành đào hào, làm cung điện, đặt triều nghi”. Đến năm 980, Lê Hoàn lên ngôi vua, kế tục sự nghiệp nhà Đinh, tiếp tục đóng đô ở Hoa Lư, lại “dựng nhiều cung điện: làm điện Bách Bảo thiên tuế ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực Lạc, làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi Vua nghØ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc”.

Mùa đông, tháng 10 năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, kế tục sự nghiệp nhà Tiền Lê, cũng đóng đô ở Hoa Lư, cho đến mùa thu năm 1010 mới dời đô ra Đại La (Thăng Long – Hà Nội). Như vậy, trong 42 năm (968-1010), Hoa Lư là kinh đô – trung tâm chính trị, văn hoá của nước ta.

Thành Hoa Lư chia làm hai khu: thành Nội và thành Ngoại; khu thành Ngoại rộng khoảng 140 ha, bao gồm các thôn Yên Thượng và Yên Thành (xã Trường Yên); khu thành Nội rộng tương đương với khu thành Ngoại thuộc địa phận thôn Chi Phong (xã Trường Yên).

Xây dựng kinh đô Hoa Lư, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đã dựa vào địa thế tự nhiên hiểm trở ở đây để xây thành, đắp luỹ. Thành Hoa Lư nằm trên một khoảnh đất khá bằng phẳng trong dãy núi đá vôi thuộc huyện Hoa Lư. Dải núi đá vôi bao bọc xung quanh tạo thành một bức tường thành thiên nhiên vô cùng kiên cố. Một số ®iÓm ë phÝa đông và đông bắc thành không có núi che kín; giữa các khoảng trống của hai quả núi, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành cho đắp những dãy thành đất tạo thành một bình diện thành kiên cố. Hiện nay, ở xã Trường Yên còn lại dấu vết và địa danh của 13 tường thành, như tường Đông, tường Vầu, thành Dền, thành Bồ, thành Bim…

Giữa khu thành Ngoại có các di tích lịch sử quan trọng như đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ Vua Lê Đại Hành… Trước cửa đền thờ Vua Đinh là núi Mã Yên – ngọn núi có hình như yên ngựa, nơi có lăng Vua Đinh, dưới chân núi ở phía Nam có lăng Vua Lê. Thôn Yên Thành có chùa Nhất Trụ, một số đền, phủ như đền Phất Kim hay phủ Bà Chúa thờ Công chúa Phất Kim (tên chính: Đền thờ Thục tiết Công chúa) là con gái Vua Đinh, phủ Kình Thiên thờ Kình Thiên Đại vương – là Thái tử, con cả Vua Lê, phủ Đông Vương thờ Đông Thành Đại vương – là con thứ hai của Vua Lê, phủ Kình Thiên,…

1. Đền Vua Đinh

Đền Vua Đinh Tiên Hoàng là một di tích quan trọng thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư. Vị trí của Đền thuộc trung tâm thành Ngoại của kinh đô Hoa Lư xưa. Đây là nơi thờ đồng thời Vua Đinh Tiên Hoàng, cha mẹ ông cùng các con trai và thờ các tướng Triều Đinh. Cũng như các di tích khác thuộc Cố đô Hoa Lư, đền Vua Đinh nằm trong Quần thể Danh thắng Tràng An đã được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới năm 2014.

Đền nằm trong khuôn viên rộng 5 ha, tọa lạc ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, được xây dựng từ thời Lý, được trùng tu lớn vào thế kỷ XVII. Là một kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ và đá do người dân Hoa Lư xây dựng để thờ, tưởng nhớ công lao Vua Đinh Tiên Hoàng – Người đã khai sinh ra nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam.

Tương truyền Đền được xây trên nền cung điện của kinh đô Hoa Lư xưa, là đất tiền thủy hậu sơn theo phong thủy do phía trước đền có sông Sào Khê chảy ngang qua, sau lưng có dãy núi Phi Long và ngay trước mặt có núi Mã Yên như một tấm bình phong che chắn.

Đền có lối kiến trúc “nội công, ngoại quốc” nghĩa là ba tòa nhà chính gồm Bái đường, Thiêu hương và Chính cung tạo thành hình chữ “công”, tường thành bao quanh khu đền tạo thành chữ “quốc”, đây là lối kiến trúc đặc trưng thường thấy trong kiến trúc đền, chùa cổ truyền ở Việt Nam.

Bên trong lối đi chính được sắp xếp tạo thành hình chữ “vương” được gọi là Chính đạo giống như tên gọi của lối đi trong cung điện xưa kia. Ngoài cùng là Ngọ Môn Quan nằm phía bắc của Đền. Phía trên cửa có hàng đại tự “Bắc môn tỏa thược” (cửa bắc khóa chặt) với ý nghĩa tránh gió phương bắc nhưng đồng thời cũng mang hàm ý khi Vua Đinh lên ngôi thì chấm dứt thời kỳ đô hộ của phương Bắc.

Đi qua cửa khoảng 20m, phía tay trái là một bức bình phong lớn, theo phong thủy bình phong giúp án ngữ gió độc và những điều chẳng lành. Phía sau bình phong có hồ nước bán nguyệt được thả đầy hoa súng. Đối diện với bình phong là sập Long sàng bằng đá, hai bên có hai nghê chầu bằng đá sa thạch nguyên khối, đây cũng là nơi bắt đầu của đường Chính đạo. Qua sập đá đến Nghi môn ngoại tức cửa ngoài với hình dạng nhà ba gian có tường hồi bít đốc, các cột, xà đều làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài. Các đầu xà, bức mê được chạm trổ hình tượng rồng lộng lẫy do được sơn son thiếp vàng. Ngoài Nghi môn ngoại, trong Đền có rất nhiều chi tiết được chạm trổ họa tiết hình rồng vì theo quan niệm của người Việt, rồng là linh vật thần thoại, tượng trưng cho thiên mệnh cao cả và tối thượng. Tiếp đến là Nghi môn nội với kiến trúc và họa tiết tương tự với Nghi môn ngoại, đây là cửa dẫn đến khuôn viên Đền, một không gian yên tĩnh, mát mẻ với những cây đại thụ hàng trăm tuổi.

Đọc thêm >>  Nông trường dứa Đồng Giao, Ninh Bình: Đẹp, độc, lạ

Đi hết đường Chính đạo qua hai cột đồng trụ là đến sân rồng. Giữa sân rồng có một lư hương lớn được làm bằng đá xanh nguyên khối, chạm nổi hình lưỡng long chầu nguyệt rất tinh xảo. Phía sau lư hương là Long sàng cũng được làm bằng đá xanh nguyên khối. Vì tượng trưng cho bệ rồng lúc vua ngự triều nên Long sàng được điêu khắc với những họa tiết rất đẹp. Bề mặt của Long sàng được tạc nổi hình con rồng với dáng vẻ uy dũng, hai tay vịn là hai con rồng dáng vẻ thanh cao đang uốn mình trên tầng mây. Xung quanh Long sàng có hai hàng chân, cột để cắm cờ bát biểu, vũ khí trong ngày hội, tượng trưng cho các thứ bậc của quan văn võ, trong đó có mười thanh long đao tượng trưng cho mười đạo quân.

Phía sau Long sàng là điện thờ Vua Đinh Tiên Hoàng. Cấu trúc điện gồm: Bái đường, Thiêu hương và Chính cung. Trong đó Bái đường được xem là công trình có kiến trúc nổi bật nhất trong khuôn viên Đền. Nghệ thuật điêu khắc ở đây đạt đến trình độ điêu luyện, các nghệ nhân dân gian đã thể hiện rất phong phú kết hợp khéo léo giữa chạm nổi với chạm lộng, đây là cách chạm khắc biểu cảm nhất, có hiệu quả không gian và hiệu quả khối cao nhất, cả thân gỗ được chạm lộng, thông phong, bong kênh tạo ra các khoảng trống được luồn lách trong khối tượng, khiến cho các mảng chạm khắc gỗ rất sinh động và có hồn. Hiên Bái đường có 12 cột gỗ lim bề thế và vững chãi, với đường kính khoảng 0,5m, đặt trên những tảng đá cổ bồng lớn. Gian giữa Bái đường để ban thờ công đồng, phía trên có một bức đại tự sơn son thiếp vàng có ghi hàng chữ: “Chính thống thủy” với ý nghĩa ca ngợi Đinh Tiên Hoàng là người đã có công thống nhất quốc gia, mở nền chính thống cho nước nhà.

Hai bên cột giữa có treo câu đối: “Cồ Việt Quốc đương Tống Khai Bảo – Hoa Lư đô thị Hán Tràng An” nghĩa là: Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hiệu Khai Bảo đời nhà Tống – Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán.

Tiếp đến là Thiêu hương, kiến trúc theo kiểu ống muống, nơi thờ tứ trụ triều đình tức các quan trung thần của nhà Đinh. Đi hết tòa Thiêu hương sẽ đến Chính cung 5 gian, công trình cuối cùng trong khuôn viên Đền. Gian giữa Chính cung thờ Vua Đinh Tiên Hoàng có tượng bằng gỗ mít sơn son thiếp vàng, đầu đội mũ bình thiên, mặc áo long cổn, mang đai ngọc. Ngài ngồi trên ngai, được đặt trên sập rồng bằng đá, dáng rất uy nghi, đường bệ như đang thiết triều. Hai bên chiếc sập cũng có hai con rồng bằng đá. Gian bên phải thờ tượng Thái tử Hạng Lang và Đinh Toàn đều quay mặt về phía bắc, là hai con thứ của Vua. Gian bên trái thờ tượng Nam Việt Vương Đinh Liễn quay mặt về phía nam là con trưởng của Vua. Các Hoàng nhi đều có tượng bằng gỗ mít sơn son thiếp vàng với dáng vẻ khiêm tốn, đều ngồi ở thế chầu, tay khoanh trước bụng, đầu đội mũ ô sa.

Điểm nổi bật ở Thiêu Hương là các mảng ván chạy suốt xà lòng có hình những đàn rồng được chạm tỉa công phu. Kỹ thuật chạm nổi và chạm lộng của các nghệ nhân tài hoa đã làm cho những con rồng như đang bay trên mây. Những con rồng trông rất sống động với nhiều hình thái khác nhau tạo cho Chính cung một vẻ rực rỡ không khác gì cung điện thu nhỏ.

Đền Vua Đinh Tiên Hoàng là một công trình kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế kỷ XVII; đặc sắc với nhiều cổ vật quý hiếm được bảo tồn và là điểm du lịch văn hóa lịch sử đầy hấp dẫn dành cho du khách khi đến với Ninh Bình.

2. Đền Vua Lê

Đền Vua Lê Đại Hành là một di tích lịch sử văn hóa quốc gia thuộc khu di tích đặc biệt cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đền thờ Vua Lê Đại Hành, Thái hậu Dương Vân Nga, Vua Lê Long Đĩnh, ngoài ra còn có bài vị thờ Công chúa Lê Thị Phất Ngân và tướng Phạm Cự Lượng. Đền Vua Lê nằm cách đền Vua Đinh Tiên Hoàng 300 mét, thuộc thành Ngoại kinh đô Hoa Lư xưa (nay là làng Yên Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).

Đền thờ Vua Lê Đại Hành còn giữ được lối kiến trúc và điêu khắc ở thời kỳ Hậu Lê. Ðền có ba toà: Bái Đường, Thiêu Hương, Chính Cung. Đền thấp hơn đền Vua Đinh, lại có nhiều bức đại tự sơn son thếp vàng, nên tạo cảm giác tráng lệ, mang tính chất huyền ảo hơn. Bái Đường đền Vua Lê Đại Hành có nhiều mảng chạm khắc gỗ rất điêu luyện và tinh xảo. Qua Bái Đường là đến Thiêu Hương thờ tứ trụ Triều Tiền Lê.

Nối với Thiêu Hương là Chính Cung, gian giữa Chính cung thờ Vua Lê Đại Hành ngồi hướng về phía trước, bên phải là Vua Lê Long Đĩnh quay về hướng bắc, bên trái là Thái hậu Dương Vân Nga quay hướng nam về phía đền Vua Đinh. Theo lý giải của dân gian thì mặc dù bà đã xuất giá làm vợ Vua Lê Đại Hành nhưng vẫn hướng về người chồng cũ là Vua Đinh Tiên Hoàng.

Cả ba pho tượng này đều mang dáng dấp thời Nguyễn vì nước sơn mới và những hoa văn trang trí rồng – mây – hoa – lá vừa quen thuộc ở thời Nguyễn vừa làm theo kỹ thuật uốn dán vào. Để ý kỹ hơn lại thấy có một số nét của cuối thế kỷ XVII sang thế kỷ XVIII hoa cúc trên mũ Thái Hậu Dương Vân Nga rực rỡ mà gọn đẹp, hài của các tượng đều chạm mảng lớn với đầu rồng đơn giản. Tuy nhiên, trên tổng quan cả ba tượng này có nhiều nét riêng tiếp nhận từ tượng thời Mạc để rồi phát triển vào những năm đầu thế kỷ XVII. Như vậy, ở ba pho tượng này có ba lớp văn hóa chồng nhau, do các thời sau tu sửa đã đắp thêm vào, chồng phủ ra ngoài.

Đọc thêm >>  Hình ảnh bình dị tuyệt đẹp của cố đô Ninh Bình

Ðiều đặc biệt ở đền thờ Vua Lê Ðại Hành là nghệ thuật chạm khắc gỗ ở thế kỷ XVII đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo. Ðền được xây dựng để tỏ lòng biết ơn của Nhân dân đối với ông vua đã có công lớn lao trong việc xây dựng đất nước vào thế kỷ thứ X, đặc biệt là chiến công “phá Tống, bình Chiêm” lừng lẫy.

3. Chùa Nhất Trụ

Chùa Nhất Trụ, hay chùa Một Cột là ngôi chùa cổ thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Chùa nằm cạnh đình Yên Thành, rất gần đền thờ Công chúa Phất Kim và đền Vua Lê Đại Hành. Ngôi chùa này cùng với chùa Am Tiên, chùa Kim Ngân, chùa Đìa, chùa Duyên Ninh là những chùa cổ thời Đinh – Lê nằm trong khuôn viên kinh thành Hoa Lư còn tồn tại đến ngày nay.

Hệ thống di vật ở chùa khá phong phú nhưng nổi bật nhất và có giá trị đặc biệt quan trọng là Kinh đá có niên đại từ Thế kỷ X. Cột kinh cấu tạo bằng đá, có thân bát giác và trên cùng là búp sen chớm nở, trên 8 mặt thân cột khắc khắc bài thần chú trong Kinh Lăng Nghiêm và một số bài kệ, có chức năng như một cuốn kinh. Cột kinh Phật chùa Nhất Trụ được Vua Lê Đại hành dựng vào năm 995. Trên cột đá còn thấy các chữ khắc từ thời Vua Lê Đại Hành.

4. Phủ Kình Thiên

Phủ Kình Thiên là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Phủ Kình Thiên nằm cách trung tâm khu di tích Cố đô Hoa Lư 600 m, gần với đền thờ Công chúa Phất Kim (nơi thờ con gái út của vua Đinh Tiên Hoàng). Phủ có kiến trúc y hệt quy mô của một ngôi đền với 3 tòa chầu vào sân giữa.

Phủ Kình Thiên hiện nay thực chất là đền thờ Hoàng tử Lê Long Thâu, con cả Vua Lê Đại Hành. Lê Long Thâu được phong là Kình Thiên Đại Vương. Tương truyền xưa ông là người cai quản Tháp Tư Thiên xây dựng tại Hoa Lư. Tháp đặt gần ghềnh có nhiệm vụ quan sát thiên tượng, dự đoán thời tiết hằng ngày để tâu lên vua. Đặc biệt, trong việc quân cơ rất cần biết thời tiết, khí tượng.

5. Đền thờ Thục Tiết Công chúa

Đền thờ Công chúa Phất Kim (còn gọi là đền Thục tiết công chúa, Phủ Bà Chúa), được xây dựng dưới Triều Đinh để tôn thờ tấm lòng trung hiếu, sáng trong, vì nghĩa lớn và thà chết chứ không chịu theo giặc chống lại vua cha của Công chúa Phất Kim.

6. Động Thiên Tôn

Động Thiên Tôn là di tích lịch sử văn hóa thuộc khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư. Nếu như núi chùa Bái Đính thờ thần Cao Sơn là vị thần núi trấn ngự ở cửa ngõ phía tây vào thành Nội, Đền Trần Tràng An thờ thần Quý Minh là vị thổ thần trấn ngự ở cửa ngõ phía nam vào thành nam thì động, chùa Thiên Tôn là di tích thờ thần Thiên Tôn, là vị thiên thần trấn ngự ở cửa ngõ phía Bắc vào thành Ngoại của khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư.

 

 

Điều độc đáo ở động Thiên Tôn là tất cả các đồ thờ đều làm bằng đá và các con rồng được chạm khắc chủ yếu theo kiểu rồng thời Lý uyển chuyển, mềm mại, dáng thanh tú. Đó là những khối đá có hồn, thể hiện tài năng sáng tạo, trí thông minh và đôi tay vàng của các nghệ nhân thời xưa. Chùa Thiên Tôn quay hướng tây dựng bằng những cột đá. Trong chùa đặt nhiều tượng Phật sơn son thiếp vàng.

Tương truyền, trước khi đem quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đã mang lễ vật vào tế lễ trong động để mong được thần giúp đỡ đánh tan các sứ quân khác. Sau khi lên ngôi vua, Đinh Tiên Hoàng đế đóng đô ở Hoa Lư, ông đã phong Thần là “An Quốc Tôn Thần” (vị tôn thần giữ gìn cho đất nước bình yên); đồng thời cho sửa sang lại động và xây đền thờ ở phía đông của động gọi là An Quốc Tôn Thần Từ, tức đình làng Đa Giá bây giờ và xây cất nhà Tiền Tế và Kính Thiên Đài là nơi tiếp đón các sứ thần nước ngoài trước khi vào kinh đô.

7. Chùa và động Am Tiên

Chùa và động Am Tiên ở lưng chừng núi, tục gọi là núi Hang Rồng ở làng Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Vị trí của động Am Tiên khi xưa tiếp giáp với thành Đông của kinh đô Hoa Lư.

Chùa Am Tiên là nơi thờ Phật. Ngoài ra trong động còn có ban thờ Đức Thánh Nguyễn Minh Không. Tương truyền, dưới thời nhà Đinh đây là ngục đá nhốt hổ dữ để trị kẻ có tội. Đến thời nhà Lý, thiền sư Nguyễn Minh Không vào đây tụng kinh thuyết pháp để yểm đảo quỷ không kêu hú, hãm hại dân lành, cải đặt tên là động Am Tiên. Vách động còn tấm bia tạc năm 1179 thời Lý Cao Tông nói về việc nhà sư Đại Quang đã biến nhà ngục thành nơi thờ Phật.

Động Am Tiên ở lưng chừng núi, động có hình giống như miệng của con rồng. Nhiều nhũ đá trong động có hình cây thóc, cây tiền, trái phật thủ, nụ hoa sen rủ xuống. Ngày nay, di tích trở thành một điểm tham quan hấp dẫn đối với khách du lịch địa phương và cả nước.

8. Đình Yên Thành

Đình Yên Thành tọa lạc tại thôn Yên Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Vào thế kỷ X, làng Yên Thành nằm ở phía bắc thành đông của kinh thành Hoa Lư. Ngày nay, đình làng Yên Thành ở giữa trung tâm của làng, cách đền thờ Vua Đinh, đền thờ Vua Lê 50m.

Di tích là nơi thờ cúng, tưởng niệm hai vị vua đầu tiên của nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam, Vua Đinh Tiên Hoàng và Vua Lê Đại Hành.

Nguồn: Tổng hợp

5 (100%) 2 vote[s]

Bình luận

avatar
  Đăng kí  
Thông báo khi có