Đinh Tiên Hoàng Đế với sự ra đời của kinh đô Hoa Lư và Nhà nước quân chủ phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở nước ta

0
30

1. Thân thế, vai trò và hoạt động của Đinh Bộ Lĩnh trong việc dẹp loạn 12 sứ quân

Đinh Bộ Lĩnh người làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay là thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), có cha là Đinh Công Trứ, Thứ sử Châu Hoan (Nghệ An), mẹ là Đàm Thị. Sau khi cha mất, ông theo mẹ về quê (Đại Hoàng) sinh sống. Sử cũ của Việt Nam đều ghi chép về tài trí thông minh, mẫn tiệp hơn người của Đinh Bộ Lĩnh. Hơn nữa, ông còn tỏ ra là người có tài làm tướng, có tài chỉ huy người khác ngay từ khi còn ít tuổi. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “… Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử…”[1].

Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), các con của Ngô Quyền (Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn) không đủ uy tín và sức mạnh để duy trì chính quyền quân chủ tập trung. Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền) âm mưu cướp ngôi. Các thổ hào, lãnh chúa nổi lên khắp nơi, cát cứ chống lại chính quyền trung ương. Sau khi Ngô Xương Ngập (954), Ngô Xương Văn chết (965), triều Ngô thực tế không còn tồn tại, đất nước rơi vào thế hỗn loạn do nhiều tướng lĩnh chiếm cứ các vùng địa phương, đánh lẫn nhau. Sử gọi là “Loạn 12 sứ quân”.

Lúc này, Đinh Bộ Lĩnh cũng chiếm động Hoa Lư (nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn) làm căn cứ ban đầu. Theo sử sách, kết hợp với truyền thuyết địa phương, để củng cố và phát triển lực lượng, Đinh Bộ Lĩnh đã tập hợp đám bạn trẻ thời niên thiếu “cùng chăn trâu cắt cỏ”, sau trở thành những trợ thủ nổi tiếng như: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ và tuyển mộ nhiều trai tráng trong vùng thành một đội gia binh riêng.

Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng tại cố đô Hoa Lư

Năm 951, lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh đã khá mạnh. Ngô Xương Văn, Ngô Xương Ngập ở triều đình Cổ Loa đem quân đánh hàng tháng trời không thắng, phải rút quân về. Về sau, Đinh Bộ Lĩnh thấy Trần Lãm (Trần Minh Công) chiếm giữ Bố Hải Khẩu (Thái Bình), là một sứ quân mạnh, có đức độ, không có con, liền cùng con trai là Đinh Liễn sang nương tựa. Trần Lãm thấy Đinh Bộ Lĩnh có tướng mạo khôi ngô, lại có chí lớn, liền nhận làm con nuôi, rồi giao binh quyền. Đinh Bộ Lĩnh như hổ thêm cánh. Sau khi Trần Lãm mất, Đinh Bộ Lĩnh thay thế chỉ huy, đứng đầu sứ quân của Trần Lãm. Đinh Bộ Lĩnh nhận thấy, địa hình Bố Hải Khẩu là đồng bằng nên bất lợi trong khi công và thủ. Ngược lại, Hoa Lư có núi non trùng điệp, sông ngòi uốn khúc, địa thế hiểm trở hơn, thuận lợi cho cả tấn công lẫn phòng thủ. Hoa Lư còn là vùng đất khá mầu mỡ, quân có thể vừa chiến đấu vừa sản xuất. Do vậy, Đinh Bộ Lĩnh đưa quân về Hoa Lư, tiếp tục chiêu mộ hào kiệt, chuẩn bị binh lực và tiến hành đánh đẹp các sứ quân.

Đinh Bộ Lĩnh là một nhà quân sự đầy kinh nghiệm, một vị tướng có tầm chiến lược cao, sách lược khôn ngoan, sáng suốt. Để thực hiện mục tiêu chiến lược dẹp loạn, thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh không dựa vào binh lực mạnh để tiến đánh theo lối “cuốn chiếu”, mà đã áp dụng chiến thuật “bẻ đũa từng chiếc”, với biện pháp kết hợp giữa quân sự (hành quân đánh dẹp) với chính trị (liên kết, hàng phục).

Lực lượng đầu tiên mà Đinh Bộ Lĩnh tập trung tiễu trừ không phải là một trong các sứ quân mà chính là bè lũ loạn thần Lữ Sử Bình và Kiều Tri Hựu ở triều đình Cổ Loa.

Đối với các sứ quân, việc Đinh Bộ Lĩnh liên kết với sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu khiến cho thế lực của Đinh Bộ Lĩnh trở nên mạnh mẽ, không chỉ về mặt lực lượng quân sự, tiềm lực kinh tế, phạm vi vùng đất kiểm soát, mà về cả sự tăng thêm uy thế cá nhân với sức thuyết phục, quy tụ to lớn của nó. Có thể coi sứ quân Trần Lãm là người được Đinh Bộ Lĩnh thu phục đầu tiên. Việc Trần Lãm quy phục Đinh Bộ Lĩnh đã khiến sứ quân Phạm Phòng Át từ vùng Kim Động (Hưng Yên) nhận thấy với thế lực của mình mà đối đầu với họ Đinh là việc làm vô nghĩa, do đó, đem quân về hàng. Cùng với Phạm Phòng Át, còn có Lã Đường từ vùng Văn Giang (Hưng Yên) cũng đem lực lượng theo về với Đinh Bộ Lĩnh.

Trong số 12 sứ quân, có 2 người là Hoàng tộc nhà Ngô (đều là cháu nội Ngô Quyền): Ngô Nhật Khánh và Ngô Xương Xí. Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm thuộc Phong Châu. Ngô Xương Xí chiếm giữ Bình Kiều thuộc Ái Châu. Đinh Bộ Lĩnh đã hành quân tới Đường Lâm, hàng phục được Ngô Nhật Khánh. Đối với sứ quân Ngô Xương Xí, theo truyền thuyết ở huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Đinh Bộ Lĩnh hành quân vào Bình Kiều, không đánh, chỉ dùng binh lực uy hiếp Ngô Xương Xí, đồng thời mở tiệc khao quân, Ngô Xương Xí hoảng sợ, nên đầu hàng.

Các sứ quân có lực lượng quân sự như: Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Kiều Công Hãn, Kiều Thuận, Nguyễn Thủ Tiệp, Lý Khuê không chịu hàng phục đã bị Đinh Bộ Lĩnh tập trung binh lực đánh dẹp.

Duy chỉ có trường hợp sứ quân Nguyễn Khoan chiếm giữ vùng Tam Đái (Yên Lạc – Vĩnh Phúc) được sử sách cho là tự tan rã.

Đinh Bộ Lĩnh đánh đến đâu thắng đến đó nên quần thần suy tôn là Vạn Thắng Vương.

Như vậy, sau thời gian hình thành và phát triển lực lượng, Đinh Bộ Lĩnh với tài năng quân sự của mình đã vươn lên hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử giao phó: dẹp loạn và thống nhất đất nước. Trong thời gian khoảng 2 năm (966-967), bằng các biện pháp: chính trị mềm dẻo – liên kết, hàng phục kết hợp với biện pháp quân sự cứng rắn – chinh phạt, Đinh Bộ Lĩnh đã lần lượt dẹp yên các sứ quân, chấm dứt cuộc “nội loạn” kéo dài ở giữa thế kỷ X, thu non sông về một mối.

Đọc thêm >>  Chiến dịch Tây Nam Ninh Bình (1953): Bước phát triển về nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp

Sự thắng thế của Đinh Bộ Lĩnh đối với các thế lực cát cứ là sự khẳng định của xu thế tập quyền, thống nhất đã là xu thế vượt trội vào nửa cuối thế kỷ X, ở Việt Nam. Sự thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh thêm một lần nữa khẳng định là thắng lợi của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân Đại Cồ Việt lúc bấy giờ.

2. Nhà nước Đại Cồ Việt

Năm 968, sau khi thống nhất được quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tự xưng là Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt (tức “Nước Việt to lớn”), đóng đô ở Hoa Lư, xây dựng triều chính, bước đầu thống nhất đất nước. Về sự kiện này, Đại Việt sử ký toàn thư chép rõ: “Năm Mậu Thìn (968). Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều Nghi. Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế[2].

Vị trí dựng đặt kinh đô Hoa Lư có diện tích khoảng 300 ha, là vùng đồng chiêm trũng được bao quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ, núi non hiểm trở. Với tầm nhìn của nhà quân sự, Đinh Tiên Hoàng đã triệt để lợi dụng địa thế tự nhiên để xây thành, đắp lũy, nối liền các khoảng trống giữa các núi thành một hệ thống khép kín. Mặc dù chức năng quân sự được thể hiện rõ trong kiến trúc tự nhiên của kinh thành Hoa Lư nhưng về cơ bản nó vẫn đảm bảo trọn vẹn chức năng là trung tâm chính trị, văn hóa của vương triều Đinh buổi đầu kiến lập. Kinh đô Hoa Lư do Đinh Tiên Hoàng tổ chức xây dựng là một công trình kiến trúc lớn nhất của đất nước sau ngàn năm Bắc thuộc.

Năm 970, Đinh Tiên Hoàng bỏ không dùng niên hiệu của các Hoàng đế Trung Hoa nữa, đặt niên hiệu mới là Thái Bình.

Với việc xưng đế, đặt quốc hiệu, dựng kinh đô, định niên hiệu, Đinh Tiên Hoàng đã khẳng định nền độc lập, tự chủ của quốc gia Đại Cồ Việt và bắt tay vào xây dựng một mô hình nhà nước với thiết chế mới: Nhà nước quân chủ trung ương tập quyền thống nhất.

Cố đô Hoa Lư ngày nay

– Về tổ chức bộ máy nhà nước

Đinh Tiên Hoàng đã hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý đất nước từ hình thức “Vương quyền”, chuyển sang hình thức “Đế quyền”, với 3 cấp: Triều đình Trung ương Đạo (trung gian) – Giáp, Xã (cơ sở).

Triều đình Trung ương tại Kinh đô Hoa Lư do Đinh Tiên Hoàng đứng đầu, con trai cả là Đinh Liễn được phong làm Nam Việt Vương, có quyền hành lớn chỉ sau Hoàng đế và được giao đặc trách công việc bang giao. Năm Thái Bình thứ 2 (971), vua bắt đầu quy định cấp bậc văn, võ, tăng đạo[3]. Đến năm 975, quy định áo mũ của các quan văn, võ.

Vua lập cho mình 5 hoàng hậu, đặt ngôi Thái tử. Sử cũ cho biết, năm 968, sau khi lên ngôi Hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng đã phong tước cho các Hoàng tử và bầy tôi thân cận: Năm 969, nhà vua phong con trưởng là Đinh Liễn làm Nam Việt Vương. Năm 978, nhà vua lập con nhỏ là Đinh Hạng Lang làm Hoàng Thái tử, phong con thứ là Đinh Toàn làm Vệ Vương.

Nhìn chung, về tổ chức chính quyền Trung ương thời Đinh, từ quan chế, nghi tiết, phần lớn đều phỏng theo các triều đại Đường, Tống của Trung Quốc. Tuy bộ máy hành chính thời Đinh là bộ máy chính quyền quân chủ thời kỳ mới độc lập, tự chủ, nên còn khá sơ sài, đơn giản, chưa thật hoàn bị nhưng việc củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước quân chủ của Đinh Tiên Hoàng đã được lịch sử ghi nhận. Sử gia thế kỷ XIII, Lê Văn Hưu nhận định: “… Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ…”[4].

Ở các địa phương, vua Đinh chia nước làm nhiều đạo, dưới đạo là giáp và xã. Đến nay, địa bàn của từng đạo và hệ hống quan chức các cấp chính quyền chưa xác định được rõ ràng.

Về quân đội, nhà nước Đại Cồ Việt thời Đinh về cơ bản là một nhà nước võ trị. Quân đội thời Đinh đông và mạnh. Điểm nổi bật nhất trong tổ chức quân sự phòng giữ đất nước thời nhà Đinh là tổ chức “Thập đạo quân”. Năm 971, Đinh Tiên Hoàng phong cho Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân, đứng đầu quân đội. Bên dưới đạo có các loại quân, lữ, tốt, ngũ. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Đinh Tiên Hoàng, năm Thái Bình thứ 5 (974), định ngạch quân 10 đạo, một đạo 10 quân, một quân 10 lữ, một lữ 10 tốt, một tốt 10 ngũ, một ngũ 10 người”[5]. Quân thường trực thời Đinh bắt đầu được trang phục thống nhất. Binh lính đều đội mũ “Tứ phương bình đinh” (bốn góc vuông, phía trên phẳng) bằng da. Và quân túc vệ đều thích trên trán ba chữ “Thiên tử quân” để phân biệt với các loại quân khác. Quân đội được trang bị các loại bạch khí, kết hợp giữ lao, giáo, kiếm, côn… với cung, nỏ…

Về luật pháp, cùng với việc từng bước xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý từ Trung ương đến địa phương, xây dựng củng cố lực lượng quân sự, nền pháp chế thời kỳ này cũng bắt đầu được để ý đến. Đinh Tiên Hoàng đã đặt chức Đô hộ phủ sĩ sư coi việc hình án – một chức quan Tư pháp và giao cho Lưu Cơ giữ chức này. Mặc dù vậy, dưới chế độ võ trị, luật pháp thời Đinh còn nghiêm khắc và tùy tiện, dựa theo ý muốn của nhà vua. Vua Đinh cho đặt vạc dầu và cũi hổ ở sân triều để trừng phạt phạm nhân.

– Về kinh tế

Thời Đinh, kinh tế nông nghiệp được quan tâm. Nhà vua nắm toàn bộ ruộng đất trong nước, vừa để khẳng định quyền lực vừa để nắm lấy thần dân, thu tô thuế, bắt lính. Bên cạnh đó, nhà nước cũng quan tâm tới việc khai hoang, lập làng, mở rộng diện tích canh tác xuống vùng đồng bằng và ven biển.

Đọc thêm >>  Cách mạng tháng Tám 1945 ở Ninh Bình

Một số ngành nghề thủ công nghiệp cũng được chú ý phát triển như: thợ nề, thợ đá, mộc, chạm khắc, dát vàng bạc… chủ yếu để phục vụ vua quan và quân đội. Trong dân gian, các nghề truyền thống như trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải lụa, làm giấy tiếp tục phát triển.

Khoảng năm 970, Đinh Tiên Hoàng cho phát hành đồng tiền đầu tiên của đất nước: đồng Thái Bình Hưng Bảo. Sự ra đời của tiền tệ thúc đẩy việc trao đổi buôn bán hàng hóa trong nhân dân và việc trao đổi buôn bán vật phẩm cũng được thực hiện với Trung Quốc và với các thuyền buôn nước ngoài.

– Về văn hóa

Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nước có chủ quyền, ở Đại Cồ Việc nửa sau thế kỷ X cũng đã hình thành những mầm mống đầu tiên của một nền văn hóa mang tính dân tộc.

Đạo Nho tuy đã xâm nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc, nhưng đến lúc này vẫn không tạo được những ảnh hưởng đáng kể. Nổi trội trong đời sống tâm linh vẫn là những tín ngưỡng dân gian hòa trộn với những tôn giáo như Phật, Đạo. Đạo Phật là chỗ dựa tinh thần và có vị trí lớn trong đời sống xã hội Đại Cồ Việt cũng như trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước thời Đinh. Ở Kinh đô Hoa Lư đã xây dựng nhiều chùa chiền (chùa Tháp, chùa Bà Ngô…) và các cột kinh Phật. Nhiều nhà sư đã trở thành cố vấn cho vua Đinh về đường lối đối nội và đối ngoại. Năm 971, vua phong cho Tăng thống Ngô Chân Lưu làm Khuông Việt Đại sư (Khuông Việt nghĩa là phò giúp nước Việt) chứng tỏ các tăng sĩ đã có vai trò rất lớn trong việc phò giúp Đinh Bộ Lĩnh.

Thời kỳ này, hiều loại hình văn hóa dân gian đã hình thành như ca múa nhạc (thể hiện qua truyền thuyết bà Phạm Thị Trân ở Hồng Châu, tỉnh Hưng Yên dạy quân sĩ hát, đánh trống, được phong chức và được suy tôn là Huyền Nữ, Ưu Bà), một số môn xiếc đã điêu luyện được biểu diễn trên lầu Đại Văn.

– Đối ngoại

Ngay sau khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng đã quan tâm đến việc thiết lập mối quan hệ bang giao với nhà Tống.

Theo các bộ chính sử của Việt Nam như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, vào năm 970, vua sai sứ sang nhà Tống giao hảo. Chuyến đi sứ sang nhà Tống vào năm Thái Bình thứ 1 (970), dưới thời Đinh là chuyến đi sứ đầu tiên mở đầu quan hệ bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc trong thời kỳ trung đại.

Tiếp đó, năm 972, vua sai con trai cả là Nam Việt vương Đinh Liễn sang nước Tống, đến năm 973 mới trở về nước. Chuyến đi sứ sang nhà Tống của Đinh Liễn thành công, nên khi Đinh Liễn về nước, vua Tống đã sai sứ đến Kinh đô Hoa Lư phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương, phong Đinh Liễn làm Kiểm hiệu Thái sư, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ.

Năm Thái Bình thứ 6 (975), mùa xuân, Đinh Tiên Hoàng sai Trịnh Tú đem sản vật địa phương gồm vàng, lụa, sừng tê, ngà voi sang nước Tống triều cống. Năm 977, Đinh Tiên Hoàng lại sai sứ sang nhà Tống đem phương vật mừng Tống Thái Tông lên ngôi.

Dưới thời Đinh, kể từ năm 970, vua Đinh Tiên Hoàng lần đầu tiên sai sứ sang nhà Tống kết hiếu, đến chuyến đi cuối cùng năm 977, sai sứ sang mừng Tống Thái Tông lên ngôi, trong quan hệ bang giao giữa Đại Cồ Việt và Trung Quốc chưa xảy ra xung đột. Nhà Tống đối với triều Đinh nói chung và vua Đinh Tiên Hoàng nói riêng, đều tỏ ra hữu hảo. Điều này cho thấy, Đinh Tiên Hoàng đã có một chính sách đối ngoại khéo léo, mềm dẻo để giữ gìn hòa bình cho dân tộc.

Như vậy, trong vòng hơn mười năm trời, nhà Đinh đã tổ chức và quản lý đất nước, thực hiện được những việc lớn lao, khẳng định thống nhất đất nước và độc lập dân tộc không thế lực nào có thể ngăn cản và phá vỡ. Nhà Đinh, từ quá trình ra đời đã giáng một đòn quyết định, chặn đứng mọi âm mưu chia sẻ đất nước của các thế lực phân tán tồn tại dai dẳng từ trước, giảnh thắng lợi căn bản cho xu hướng thống nhất, tập quyền, phù hợp với yêu cầu của lịch sử. Với nhà Đinh, quốc gia độc lập tự chủ Đại Cồ Việt tồn tại trong thế đứng hiên ngang. Hơn 10 năm xây dựng, nhà Đinh đã dựng nên mô hình tổ chức quản lý đất nước có tác dung định hướng cho tương lai. Đó là một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền trẻ ở xu thế phát triển theo hướng phong kiến hóa với đường lối đối nội hòa hợp, gần gũi; gắn bó với cộng đồng giáo, xã; đối ngoại mềm dẻo trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của dân tộc, với nền quốc phòng mạnh. Trên cơ sở ban đầu đó, các vương triều sau còn phải tiến hành sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh và củng cố cho phù hợp với sự phát triển của đất nước trong quá trình hình thành và xác lập chế độ phong kiến loại hình phương Đông ở nước ta.

[1]. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Nxb Khoa học xã hội, t.1, tr.210.

[2]. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Nxb Khoa học xã hội, t.1, tr.211.

[3]. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Nxb Khoa học xã hội, t.1, tr.212 chép: “Niên hiệu Thái Bình năm thứ 2 (971), [Vua] bắt đầu quy định cấp bậc văn, võ, tăng đạo. Lấy Nguyễn Bặc làm Định Quốc công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư, Trương Ma Ni làm Tăng lục, Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân Uy nghi.

[4]. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Nxb Khoa học xã hội, t.1, tr.211.

[5]. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Nxb Khoa học xã hội, t.1, tr.212-213.

5 (100%) 2 vote[s]

Bình luận

avatar
  Đăng kí  
Thông báo khi có