Chiến dịch Tây Nam Ninh Bình (1953): Bước phát triển về nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp

0
11

Bước vào Thu đông 1953, ở chiến trường chính Bắc Bộ, trong khi ta đang tích cực chuẩn bị mọi mặt theo kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 – 1954 nhằm phá kế hoạch Na-va của địch, thì tình báo của Pháp lại khẳng định ta sẽ mở cuộc tiến công vào ngày 15 tháng 10 năm 1953 và một trong những bàn đạp của cuộc tiến công đó là phủ Nho Quan ở về phía tây nam Ninh Bình, nơi Đại đoàn 320 đang hoạt động. Na-va lập tức mở cuộc hành quân “Hải Âu” nhằm: “loại Đại đoàn 320 ra ngoài vòng chiến đấu trước khi nó vào địch hậu, hay ít nhất cũng phá được bàn đạp tiến công mà đại đoàn này đã tổ chức ở vùng Nho Quan”. Đây còn là cuộc tiến công nhằm nâng cao uy tín của Na-va, làm hậu thuẫn cho phái chủ chiến ở Pháp và là cớ để xin thêm viện trợ của Mỹ.

Với mục đích quân sự và chính trị trên đây, bộ chỉ huy Pháp đã huy động vào cuộc hành quân tới 6 binh đoàn cơ động, gồm 19 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn thiết giáp, 9 tiểu đoàn pháo (6 tiểu đoàn của 6 binh đoàn và 3 đại đội biệt kích). Tổng số quân lên đến 4 vạn tên được tổ chức thành hai sư đoàn lâm thời A và B và cánh quân C, do tướng Cô-nhi, tư lệnh Bắc Bộ trực tiếp chỉ huy.

Đồng thời với cuộc hành quân này, bộ chỉ huy Pháp còn mở cuộc hành quân “Chim Bồ Nông” ở phía vùng biên Thanh Hóa nhằm nghi binh và uy hiếp, giam chân Đại đoàn 304 ở vùng này, không cho Đại đoàn chi viện tiếp sức cho vùng Ninh Bình.

Về phía ta, ngay sau khi địch rút khỏi Nà Sản (tháng 8-1953), Bộ Chính trị đã họp và nhận định: Ở đồng bằng Bắc Bộ, địch có thể lợi dụng những sơ hở của ta để tập kích ra vùng tự do, phá cơ sở kinh tế, kho tàng, phá việc chuẩn bị chiến dịch… Khả năng địch chiếm đóng rộng ra thì ít, nhưng ở mạn Nho Quan, Chi Nê chúng ta cần có kế hoạch đề phòng. Cũng trong tháng 8 năm 1953, Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị cho bộ đội chủ lực và chính quyền địa phương ở vùng tự do phải có kế hoạch sẵn sàng chiến đấu tiêu hao tiêu diệt quân địch khi chúng đánh ra vùng tự do. Sau hạ tuần tháng 10, Bộ có lệnh cho trung đoàn 9 Đại đoàn 304 di chuyển ra bắc Đò Lèn làm lực lượng dự bị cho Đại đoàn 320.

Vùng tây nam Ninh Bình, nơi xẩy ra tác chiến là khu vực rộng, mỗi chiều khoảng 25 ki-lô-mét, nằm trong địa phận các huyện Gia Viễn, Gia Khánh, Nho Quan, Yên Khánh và một phần nhỏ bắc Thanh Hóa. Đây là vùng tự do của tỉnh Ninh Bình nằm ở phía tây phòng tuyến sông Đáy của địch. Nho Quan là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, là của ngõ tiến vào khu căn cứ rừng núi hữu ngạn và là nơi nối liền Liên khu 3 và Liên khu 4 của ta. Từ khi địch chiếm đồng bằng Bắc Bộ và lập phòng tuyến sông Đáy, khu vực tự do Tây nam Ninh Bình là một bàn đạp để ta tiến vào vùng địch hậu, là một căn cứ xuất phát và là nơi cung cấp người, lương thực cho các đợt hoạt động của chủ lực.

Dân quân, du kích và nhân dân các địa phương đồng bằng Bắc Bộ làm chông chống giặc Pháp

Địa hình Tây nam Ninh Bình tương đối hiểm trở, đồng ruộng xen kẽ rừng núi đá vôi. Phía bắc là khu núi đá Hà Nam, Hoà Bình, phía tây và nam là dãy Tam Điệp chắn giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, phía đông là khu núi đá Gia Khánh.

Từ đồng bằng vào vùng Nho Quan chỉ có hai đường chính. Phía bắc từ Gián Khẩu vào có đường 12 và sông Hoàng Long chạy giữa cánh đồng nước Gia Viễn, phía nam, từ Ghềnh vào có đường 59. Cả hai con đường đều bị phá nhiều chỗ, các phương tiện cơ giới nặng khó cơ động.

Đứng chân ở vùng tự do Tây nam Ninh Bình lúc này là Đại đoàn 320 do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Đại đoàn trưởng. Trang bị vũ khí bộ binh của đại đoàn tương đối đầy đủ, song về hoả lực, mỗi trung đoàn chỉ có bốn đến sáu khẩu cối 81mm, hai đến bốn khẩu ĐKZ và một tiểu đội hỏa lực trợ chiến. Đại đoàn 320 là đại đoàn có nhiều kinh nghiệm đánh đồng bằng địch hậu, song ít kinh nghiệm đánh rừng núi, điểm cao. Đại đoàn vừa tổ chức chỉnh quân nên tinh thần cán bộ chiến sĩ rất hăng hái.

Từ cuối tháng 8 năm 1953, khi nhận được lệnh của Bộ đề phòng địch đánh ra vùng tự do, Đảng uỷ đại đoàn đã lãnh đạo các đơn vị một mặt tích cực chuẩn bị, phối hợp với địa phương sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng tự do; một mặt tiếp tục hoàn thành chương trình huấn luyện quân sự, nâng cao trình độ tác chiến của đại đoàn trước khi bước vào đợt hoạt động Đông Xuân 1953-1954. Để có thể vừa huấn luyện vừa sẵn sàng chiến đấu, và phán đoán mục tiêu chính của địch là Nho Quan, Rịa nên đại đoàn đã bố trí lực lượng ở những vùng vừa tiện lợi cho huấn luyện, vừa có thể đánh địch trên hai hướng đường 59 và đường 12. Trung đoàn 64 ở vùng Kỳ Lao, Quan Thạch, có nhiệm vụ đánh địch ở vùng lân cận Rịa, đường 59, đường Rịa đi Phố Cát. Trung đoàn 52 ở Châu Sơn, Nho Quan, Yên Nông có nhiệm vụ đánh địch tiến theo đường 12, khi có điều kiện vận động đánh vào sườn địch trên đường 59. Trung đoàn 48 là lực lượng cơ động của sư đoàn, bố trí ở phía nam Phố Cát (Thạch Thành, Thanh Hoá). Dựa trên kinh nghiệm chiến đấu ở vùng địch hậu và so sánh tương quan lực lượng, đại đoàn đã xác định phương châm tác chiến ban đầu là “lấy tập kích địch chiếm đóng là chính”.

Phối hợp chiến đấu cùng Đại đoàn 320 còn có bộ đội địa phương dân quân du kích tỉnh Ninh Bình mà nòng cốt là các đại đội 198 ở Yên Mô, đại đội 29 ở Gia Viễn, đại đội 195 ở Quỳnh Lưu, Nho Quan. Lực lượng vũ trang các huyện được bổ sung quân số, trang bị thêm vũ khí, đào công sự xây dựng trận địa mai phục ở khắp nơi, sẵn sàng đánh địch trên các địa bàn được phân công. Các kho vũ khí, thóc gạo trong huyện Nho Quan đã được chuyển đến địa điểm mới an toàn hơn. Các đường mòn, đường tắt từ Nho Quan đi Kim Tân, Thanh Hoá nối liền Liên khu 3 với Liên khu 4 cũng được mở rộng để tiện việc hành quân tiếp tế.

Tuy nhiên, mặc dù được dự báo trước hai tháng, nhưng do không dự kiến địch sẽ đánh ra vùng tự do vào thời điểm nào nên đại đoàn chú trọng chuẩn bị nhiều hơn cho hoạt động ở địch hậu. Việc quán triệt tư tưởng, tình hình nhiệm vụ đánh địch tiến công ra vùng tự do cho cấp dưới chưa đầy đủ, việc xây dựng phương án chiến đấu, chuẩn bị chiến trường, nhất là chuẩn bị đường cơ động cho bộ đội còn sơ sài và nhiều thiếu sót.

Sau một thời gian tiến hành các thủ đoạn nghi binh và điều động các binh đoàn đến tập kết ở các khu vực Ghềnh, Yên Mô, Ninh Bình và Hoàng Đan, Ý Yên, Hà Nam, sáng ngày 15 tháng 10 năm 1953, các binh đoàn thuộc sư đoàn A và B của Pháp rầm rộ tiến theo đường 59 đánh chiếm Rịa và các điểm cao ven đường. Đồng thời ở hướng Hoàng Đan, cánh quân 2 cũng dàn lực lượng đến tận Gián Khẩu, bảo vệ phía sau cho các lực lượng tiến công. Hướng Thanh Hóa, ngày 16 tháng 10, địch đổ bộ 500 quân lên Hải Yến, tung 40 biệt kích xuống Khoa Trường, cho nhiều tàu chiến, máy bay hoạt động ở ngoài khơi hòng nghi binh thu hút chủ lực ta. Trong khi rùm beng về hoạt động ở hướng Thanh Hóa, ngày 17 binh đoàn số 1 của Pháp ở Rịa bắt đầu đánh toả ra: chiếm đồi 94 và các vị trí xung quanh trên đường đi Nho Quan cách Rịa năm km về phía tây, chiếm đồi 201 (Trại Ngọc) trên đường đi Kim Tân, cách Rịa năm km về phía đông nam.

Đọc thêm >>  Danh xưng Ninh Bình qua các thời kỳ

Đến hết ngày 17, trên hướng chính địch đã chiếm được khu bàn đạp quan trọng để tiến công vào Nho Quan. Trong đợt 1 của chiến dịch, từ ngày 15 đến 17 tháng 10, do xác định phương châm lấy tập kích là chính nên ta chỉ sử dụng bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện Gia Viễn, Yên Mô, Nho Quan tổ chức các trận đánh lẻ, ngăn chặn tiêu hao địch. Các trung đoàn chủ lực vẫn ém quân bí mật, sẵn sàng bước vào chiến đấu.

Ngày 18 (bắt đầu đợt 2), địch tổ chức hai cánh đánh ra các vùng xung quanh bàn đạp: Cánh phía tây gồm ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn thiết giáp tập kết ở Trại Ngọc, Yên Lai, sau đó để lại tiểu đoàn 3 lê dương ở Trại Ngọc, còn hai tiểu đoàn ngụy và tiểu đoàn thiết giáp tiến công vào Phố Cát – Vân Du. Cánh đông gồm ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn thiết giáp tập kết ở Quang Sỏi, sau đó tổ chức sục sạo ở Đồng Giao, Quang Lang Đoài.

Mặc dù ta có dự kiến địch sẽ thọc vào Phố Cát, song do công tác tổ chức nắm địch không tốt nên khi địch tiến đến Phố Cát, ta lại bị bất ngờ, không tổ chức đánh chặn. Đêm 18, khi trung đoàn 48 vận động ra Phố Cát để tập kích thì địch đã rút về Trại Ngọc, Trung đoàn bỏ lỡ thời cơ diệt địch.

Cũng đêm 18 rạng sáng ngày 19 tháng 10, trung đoàn 64 tổ chức tập kích địch ở điểm cao 94 và 201. Đồi 94 (còn gọi là đồi Rào), nằm bên trái đường 59 từ Rịa đi Nho Quan, đối diện với làng Sào Lâm, có hai mỏm nối với nhau bằng một yên ngựa, phía sau là một dải đồi tranh thấp. Lực lượng địch ở đồi 94 có hai đại đội Âu – Phi thuộc binh đoàn cơ động số 1. Đồi 201 là đỉnh cao nhất trong cụm bốn quả đồi nằm trên đường Rịa đi Kim Tân. Trên mỏm chính này cũng có hai đại đội của binh đoàn cơ động số 1 và các quả đồi lân cận cũng có lực lượng địch chiếm đóng.

Ngay từ chiều ngày 16 tháng 10, khi địch chiếm đồi 94, tiểu đoàn 706 đã được lệnh nghiên cứu đánh địch. 18 giờ ngày 18, tiểu đoàn rời khu rừng Kỳ Lão hành quân trong đêm tiến về khu đồi 94. Khoảng 2 giờ sáng ngày 19, các mũi của tiểu đoàn đã triển khai vây chặt quả đồi, có mũi cách địch chỉ 20 mét. Tiểu đoàn phát lệnh nổ súng, sau một loạt hoả lực đi cùng, bộ đội trên các hướng xung phong mãnh liệt, xả súng tiêu diệt bọn địch đang hoảng loạn quanh những chiếc lều vải trên đồi. Trận đánh diễn ra nhanh gọn trong khoảng 30 phút, ta diệt 150 tên, bắt sống 15 tên, thu một ĐKZ, sáu trung đại liên và nhiều vũ khí quân trang, quân dụng khác. Ta hy sinh 17, bị thương 35 đồng chí.

Ở điểm cao 201, 3 giờ 30 phút ngày 19 tháng 10, tiểu đoàn 722 cũng áp sát địch và nổ súng tiến công. Do bị địch phát hiện trước, yếu tố bất ngờ không còn, nên trận đánh diễn ra rất ác liệt. Sau nhiều lần xung phong, ta chỉ chiếm được một mỏm đồi, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch, rồi tổ chức lui quân trước khi trời sáng. Trận này ta diệt 60 tên, bắt sống 15, thu 15 súng các loại, song thương vong của ta do bị pháo binh địch cũng khá lớn (hy sinh 64 người, bị thương 83 người).

Sau đợt hoạt động của ta đêm 18, địch tổ chức chiếm lại đồi 94, đồi 201, tăng cường hai tiểu đoàn pháo lên Rịa, dốc toàn lực lượng vào việc tăng cường công sự, chướng ngại vật trên các điểm cao, lùng sục bảo vệ các sở chỉ huy, trận địa pháo. Về phía ta, Đảng uỷ đại đoàn cũng triệu tập cuộc họp mở rộng và nhận định: địch đang củng cố các vị trí, song không có mục đích chiếm đóng lâu dài, sắp tới chúng sẽ tổ chức các cuộc càn rộng ra xung quanh, ta sẽ có điều kiện đánh địch trong vận động: mặt khác, tập kích địch trên các điểm cao ta bị thương vong nhiều. Do đó đại đoàn quyết định đổi phương châm tác chiến: “Phải tranh thủ đánh vận động chiến”, tránh tư tưởng chỉ muốn “ăn to” không muốn phân tán đánh nhỏ. Đại đoàn đã lệnh cho các trung đoàn tổ chức các bộ phận nhỏ kết hợp với dân quân du kích đánh nhỏ, đánh phân tán. Trung đoàn 52 điều một tiểu đoàn vào Quỳnh Lưu phát động chiến tranh du kích, Trung đoàn 48, 64 bố trí ở sườn địch trên đường Rịa, Phố Cát, sẵn sàng tiêu diệt địch khi chúng đánh vào Nho Quan.

Sau những ngày chuẩn bị và củng cố bàn đạp, 5 giờ sáng ngày 22 tháng 10, địch cho ba tiểu đoàn bộ binh cơ giới có pháo binh, không quân yểm trợ tiến lên Nho Quan bằng hai mũi. Mũi chính tiến theo đường 59 gồm hai tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn cơ giới và hai tiểu đoàn pháo binh. Mũi thứ hai có một tiểu đoàn bộ binh xuất phát từ mỏm đồi 94 đi theo con đường phía tây đường 59 lên Nho Quan (cánh trái). Cả hai mũi tiến công của địch đều bị các bộ phận nhỏ phân tán của trung đoàn 52 và 64 cùng dân quân du kích bắn tỉa nên chúng tiến rất dè dặt.

Cánh trái, khi tới Bát Cô, bị một tiểu đoàn của trung đoàn 52 chặn đánh và bị diệt 30 tên, phải dừng lại rồi rút ra đường 59. Tiểu đoàn 706 trung đoàn 64 tổ chức truy kích bọn này đến tận làng Tri Phương diệt gần một đại đội. Mũi chính, đến chiều mới tới Nho Quan, thấy trong thị trấn “vườn không nhà trống” lại nghe tin cánh trái bị đánh, nên vội vã phá một số nhà và cầu phao rồi rút ngay.

Sau khi địch rút khỏi Nho Quan, Đại đoàn phán đoán địch sẽ đánh lên lần nữa, nên điều tiểu đoàn 1 trung đoàn 48 tổ chức phục kích địch ở chân đồi Trại Ngọc. Đêm 23, tiểu đoàn bí mật triển khai trận địa phục kích dài hơn hai km ở chân đồi Trại Ngọc. 8 giờ sáng ngày 24, tiểu đoàn 1 lê dương thuộc trung đoàn 5 có khoảng 20 xe tăng xe bọc thép đi cùng từ Rịa tiến về Phủ Đồi – Trại Ngọc. Tiểu đoàn 706 nổ súng, trận chiến đấu rất ác liệt vì trận địa phục kích của ta ở gần các điểm cao có địch chiếm đóng nên địch dựa vào phi pháo, cơ giới và các lực lượng chốt giữ gần đó chống cự quyết liệt. Trận đánh kéo dài đến chiều, ta diệt hơn một đại đội địch, phá hủy năm xe tăng, bốn xe bọc thép, thu nhiều vũ khí phương tiện.

Đọc thêm >>  KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CỐ ĐÔ HOA LƯ: LỊCH SỬ VÀ CẢNH QUAN

Ngày 25 tháng 10, địch đưa bốn tiểu đoàn bộ binh, bốn tiểu đoàn pháo binh và một tiểu đoàn thiết giáp từ Ghềnh mở cuộc càn quét vào Bỉm Sơn – Quý Hương, nơi chúng cho là có căn cứ, kho tàng của Đại đoàn 320. Qua ba ngày lùng sục không kết quả gì, sáng ngày 28 chúng cho phần lớn lực lượng rút về, chỉ để lại một tiểu đoàn lê dương và một tiểu đoàn ngụy Thái ở lại hòng phục kích chủ lực ta trên đường tới Sòng Cạn.

10 giờ sáng ngày 28 tháng 10, phát hiện địch đi từ Quý Hương về Sòng Cạn, đại đoàn hạ quyết tâm tiêu diệt địch. Tiểu đoàn 3 trung đoàn 48 và tiểu đoàn 706 trung đoàn 64 được lệnh cùng xuất kích ra đánh địch. Tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 bịt hậu ở phía Quý Hương, tiểu đoàn 738 trung đoàn 64 chặn viện ở Giốc Giàng. Bị ta đánh bất ngờ cả tiểu đoàn ngụy Thái và một bộ phận của tiểu đoàn lê dương hoảng loạn tháo chạy. Ta tổ chức truy kích và đánh trả máy bay địch đến ứng viện. Sau vài giờ chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần hai tiểu đoàn địch, diệt 300 tên, bắt sống 155 tên, bắn rơi hai máy bay, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng. 15 giờ chiều cùng ngày (28.10), địch cho một tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn thiết giáp từ Trại Ngọc vào Giốc Giàng để đón tàn binh. Tiểu đoàn 738 trung đoàn 64 ở Sòng Cạn và các tiểu đoàn khác bố trí gần Giốc Giàng tổ chức đánh viện không thành công. Ta chỉ tiêu hao một lực lượng nhỏ địch, còn đại bộ phận chúng tổ chức rút theo kiểu cuốn chiếu về Trại Ngọc.

Sau thất bại ở Giốc Giàng – Sòng Cạn, địch co về Rịa, Vĩnh Phương củng cố, cướp phá, lùng sục đẩy ta ra xa khu vực bàn đạp của chúng. Bộ đội chủ lực cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích vẫn không ngừng đánh chặn và quấy phá diệt thêm được nhiều địch. Ngày 30 tháng 10, một bộ phận trung đoàn 52 diệt 30 tên địch ở bắc Vĩnh Phương tám ki-lô-mét. Ngày 31, bộ đội trung đoàn 64 diệt 60 tên ở gần điểm cao 253 và diệt một trung đội địch ở Phú Hưu…

Để giữ bất ngờ cho việc lui quân và làm vừa lòng phó tổng thống Mỹ Ních-xơn sẽ đến thị sát tây nam Ninh Bình, ngày 2 tháng 11 (mở đầu đợt 3), địch tung bảy tiểu đoàn chia làm hai cánh tiến công lên Nho Quan lần thứ hai. Cánh chính từ Rịa đi theo đường 59 gồm hai tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn dù, một tiểu đoàn cơ giới và một tiểu đoàn pháo. Cánh trái có hai tiểu đoàn bộ binh, từ mỏm đồi 94 đi men theo chân núi Yên Mông lên Nho Quan, làm nhiệm vụ bảo vệ sườn cho cánh chính.

Quyết tâm của đại đoàn là: dùng một lượng nhỏ của trung đoàn 52 phối hợp với du kích ngăn chặn, tiêu hao làm chậm bước tiến của địch trên cánh chính (đường 59) đồng thời tập trung lực lượng đánh địch trên cánh trái.

Cả hai cánh quân của địch đều tiến rất thận trọng. Cánh chính bị một bộ phận của tiểu đoàn 757 trung đoàn 52 cùng du kích chặn đánh, bắn tỉa phải dừng lại nghỉ đêm tại Văn Luận, trong đêm lại bị ta tập kích hoả lực, thiệt hại gần 100 tên, trưa ngày 3 tháng 11 mới tới Nho Quan.

Trưa ngày 3 tháng 11, trong khi cánh chính tiến lên Nho Quan, thì một tiểu đoàn của cánh trái tiểu đoàn 1, trung đoàn 5 lê dương sục vào làng Mống Lá. Tiểu đoàn 391 trung đoàn 52 phục sẵn ở đây tổ chức nhiều mũi bao vây chia cắt, tiêu diệt địch. Trận đánh kéo dài trong 45 phút, ta diệt gọn hai đại đội, làm tan rã hai đại đội khác, bắt sống 110 tên.

Tiến lên Nho Quan không thu được kết quả gì, trưa ngày 5 tháng 11, các lực lượng địch ở Nho Quan rút về Rịa. Ngày 6 tháng 11, địch dùng không quân, pháo binh bắn phá ác liệt các cửa rừng và các đường xuất kích của ta bảo vệ cho toàn bộ lực lượng rút quân, kết thúc cuộc hành quân. Ta tranh thủ thời cơ đưa lực lượng xuất kích diệt thêm một số địch ở các vị trí xung quanh Rịa. Chiều ngày 6 tháng 11, bộ đội ta kiểm soát toàn bộ khu vực địch đã mất, chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình kết thúc thắng lợi.

Sau 23 ngày đêm, Đại đoàn 320 đánh 23 trận lớn nhỏ cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tỉnh Ninh Bình loại khỏi vòng chiến đấu 1.711 tên (bắt 311 tên), phá huỷ 21 xe (có ba xe tăng, bốn xe thiết giáp), bắn rơi hai máy bay, thu nhiều vũ khí, trang bị.

Chiến dịch phản công Tây Nam Ninh Bình (từ ngày 15-10-1953 đến ngày 6-11-1953) giành thắng lợi không chỉ có ý nghĩa diệt sinh lực địch mà quan trọng là đã làm thất bại ý đồ “đánh trước” của địch, khẳng định bước phát triển về nghệ thuật chọn, chuyển kịp thời phương châm tác chiến từ tập kích quân địch chiếm đóng sang đánh địch vận động trên các địa hình phức tạp và thời gian khác nhau. Na-va tập trung một lực lượng rất lớn đánh ra vùng tự do của ta hòng giành lại thế chủ động, buộc ta phải tập trung chủ lực đối phó. Đại đoàn 320 cùng lực lượng vũ trang địa phương đã bảo vệ được vùng hậu phương quan trọng, bảo toàn được chủ lực. Các đại đoàn khác, kể cả Đại đoàn 304 và Đại đoàn 316 đang đứng chân gần đó vẫn triển khai công tác chuẩn bị cho hoạt động Đông Xuân 1953-1954.

Nét hay về nghệ thuật chiến dịch trong chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình là Bộ chỉ huy chiến dịch đã rút kinh nghiệm kịp thời, nhanh chóng chuyển phương châm tác chiến từ tập kích quân địch chiếm đóng sang đánh địch đang trong vận động; vận dụng cách đánh thích hợp bằng lực lượng vừa và nhỏ, kết hợp chủ lực và địa phương, kết hợp trận địa phục kích của chủ lực với làng xã chiến đấu, tránh chỗ mạnh, lúc địch mạnh, đánh vào những cánh quân yếu, lực lượng nhỏ lẻ, nhằm tiêu diệt, tiêu hao địch, bảo vệ ta, cuối cùng làm thất bại mưu đồ cuộc hành quân của chúng.

Thắng lợi của chiến dịch đã bảo vệ vững chắc được vùng hậu phương quan trọng, bảo toàn được chủ lực, giữ vững quyền chủ động chiến lược, tạo thêm điều kiện thuận lợi để quân và dân ta bước vào chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.

Tuy nhiên, do nắm địch không chắc, bố trí một số đơn vị không phù hợp với tình hình thực tế nhưng lại chưa thay đổi cho phù hợp, một số bộ phận không chấp hành đúng ý định của đại đoàn, nên ta còn bỏ lỡ nhiều cơ hội diệt địch, nhiều trận thương vong còn lớn.

Nguồn: Tổng hợp

 

 

 

Hãy bình chọn

Bình luận

avatar
  Đăng kí  
Thông báo khi có